Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Công Giáo Việt Nam

Tóm Lược Tam Quyền Phân Lập Của Nước Mỹ

09:31 - 11/10/2019

Trong hệ thống chính trị dân chủ thì tam quyền phân lập là để kiểm soát quyền lực và thực thi một nền pháp trị. Để có thể hiểu một cách ngắn gọn, chúng tôi xin đươc đăng bản tóm lược dưới đây.  


NGÀNH LẬP PHÁP (the LEGISLATIVE BRANCH)

Ngành Lập pháp bao gồm Hạ viện (House of Representatives, viết tắt là "the House") và Thượng viện (Senate), cùng nhau tạo thành Quốc hội Mỹ (Congress).

* Cấu trúc:

HẠ VIỆN gồm 435 Dân biểu, được chia cho 50 bang tương ứng với tổng dân số của mỗi bang (bang đông dân thì nhiều Dân biểu liên bang hơn, như Califonia được 53 Dân biểu liên bang, Texas được 36, Florida được 27, Alaska được 1 Dân biểu liên bang...). Chủ tịch Hạ viện ("Speaker of the House", nhớ à, đừng dịch "phát ngôn viên của Hạ viện" là thúi hẻo luôn), được bầu bởi đảng phái nào có số Dân biểu nhiều hơn.

Nhiệm kỳ dân biểu liên bang là 2 năm. Cứ 2 năm bầu lại toàn bộ Hạ Viện.

THƯỢNG VIỆN gồm 100 Thượng nghị sĩ, chia đều 2 thượng nghị sĩ cho mỗi bang (bất kể lớn nhỏ). Chủ tịch Thượng Viện được ấn định là Phó Tổng thống Mỹ đương nhiệm, tuy nhiên Phó Tổng thống không bỏ phiếu như 100 Thượng nghị sĩ trước các dự luật, ngoại trừ khi một dự luật nào đó có số phiếu thuận/chống ngang nhau thì Phó Tổng thống Mỹ được bỏ phiếu (và trở thành lá phiếu quyết định).

Trong thực tế điều hành là do Chủ tịch Thượng viện tạm quyền (president pro tempore), được bầu bởi đảng phái nào có số thượng nghị sĩ nhiều hơn.

Nhiệm kỳ thượng nghị sĩ liên bang là 6 năm, được đặt so le để khoảng 1/3 Thượng Viện sẽ được bầu lại sau hai năm.

* Quyền hạn:

HẠ VIỆN có đặc quyền đáng chú ý là soạn thảo dự luật ngân sách liên bang (dự luật này còn phải thông qua Thượng Viện; nhưng quyền khởi thảo dự luật ngân sách thuộc Hạ Viện); phê chuẩn hiệp ước nào liên quan đến ngoại thương; luận tội các quan chức liên bang; và quyền bầu chọn Tổng thống trong trường hợp cuộc tranh cử không có ứng viên nào đạt quá bán tối thiểu electoral votes (tức không có ứng viên nào đạt được 270 electoral votes).

THƯỢNG VIỆN có đặc quyền phê chuẩn việc bổ nhiệm các thành viên nội các (cabinet) do Tổng thống đề xuất; phê chuẩn các hiệp ước quốc tế (thuộc mọi lãnh vực, ngoại trừ ngoại thương thì phải có sự đồng thuận phê chuẩn của Hạ Viện); quyền đồng thuận hoặc bác bỏ việc luận tội quan chức liên bang do Hạ Viện đưa qua.

* QUY TRÌNH LẬP PHÁP (Legislative Process):

Bất luận một dự luật (bill) nào đưa ra (đây thuộc về thẩm quyền của Quốc hội), cũng phải được thông qua bởi Thượng Viện lẫn Hạ Viện - theo "đa số tối thiểu" (tức phe bỏ phiếu thuận có nhiều hơn phe bỏ phiếu chống, trong mỗi Viện: nhiều hơn tối thiểu là 1 phiếu).

Sau đó, dự luật (bill) đưa qua Tổng thống. Nếu Tổng thống đồng ý, ký vào, dự luật trở thành đạo luật (law) có hiệu lực thi hành. Nếu Tổng thống phủ quyết, dự luật đó được gửi trả lại. Và Quốc hội vẫn có thẩm quyền "đè lên phủ quyết" bằng cách bỏ phiếu trở lại trong mỗi Viện: lần này không áp dụng "đa số tối thiểu" mà buộc phải "đa số 2/3" (tức có 2/3 số Dân biểu, 2/3 số Thượng nghị sĩ) tán thành dự luật => Dự luật (bill) trở thành luật (law) có tính chất cưỡng chế thi hành (Tổng thống không còn quyền phủ quyết nữa).

* HẠN CHẾ ?

Tổng thống chỉ được tối đa 2 nhiệm kỳ (tổng cộng 8 năm, tức chỉ được tái tranh cử thêm một lần), nhằm ngăn chặn "quyền lực càng lâu thì càng dễ tha hóa bởi quyền lực". NHƯNG, trong khi đó, Dân biểu liên bang (nhiệm kỳ 2 năm), Thượng nghị sĩ liên bang (nhiệm kỳ 6 năm) thì không bị ràng buộc bởi số lần tái cử.

Thành thử có những dân biểu, nhứt là các thượng nghị sĩ cho tới nay giữ ghế cả hai, ba chục năm - tạo thành một quyền lực như "vòi bạch tuộc", khống chế nghị trường, "tác oai tác quái"...

Hiện nay, vẫn chưa có Tu chính án (bổ sung cho Hiến pháp) để giới hạn số lần tái cử tối đa đối với các nhân sự ngành Lập pháp. Phải chăng đây là "mặt hạn chế"? Cần có thêm những nguồn ý kiến khác để tham khảo, đánh giá.

NGÀNH HÀNH PHÁP MỸ (EXECUTIVE BRANCH)

A/ TỔNG THỐNG (President)

Quyền lực bên ngành Hành pháp được trao cho Tổng thống, đóng vai trò là nguyên thủ quốc gia và Tổng tư lịnh các lực lượng võ trang.

Mỗi ngày, Tổng thống Mỹ phải đối mặt với rất nhiều quyết định, mỗi quyết định đều có hậu quả quan trọng đối với tương lai nước Mỹ. Giúp việc cho Tổng thống có các cộng sự trong Văn phòng Tổng thống (EOP: Executive Office of the President), và Nội các (Cabinet) gồm 15 Bộ (Department).

* Mọi dự luật được thông qua bởi Quốc hội lưỡng viện (ngành Lập pháp: the Legislative Branch), buộc phải có chữ ký của Tổng thống thì mới trở thành đạo luật có hiệu lực thi hành. Trong trường hợp Tổng thống phủ quyết (veto), Quốc hội có thể vượt qua veto với điều kiện là phải có 2/3 số lượng Dân biểu lẫn Thượng nghị sĩ liên bang đồng thuận.

Ngành Hành pháp có thẩm quyền tiến hành ngoại giao với các nước, và Tổng thống có quyền đàm phán / ký kết các hiệp ước quốc tế (sau đó, hiệp ước phải được Thượng viện phê chuẩn, riêng đối với hiệp ước có liên quan đến thương mại thì cần phải có thêm sự phê chuẩn của Hạ viện).

Tổng thống thực thi các công việc hàng ngày bằng cách ban hành các sắc lịnh hành pháp (executive orders).

* Nhiệm kỳ Tổng thống Mỹ là 4 năm, và chỉ được tối đa 2 nhiệm kỳ. Qui định này áp dụng bắt đầu từ năm 1951, trước đó không giới hạn số nhiệm kỳ của Tổng thống (Franklin D.Roosevelt được bầu làm Tổng thống bốn lần, từ năm 1932 cho đến khi ông qua đời năm 1945; ông là Tổng thống duy nhứt làm "ông chủ" Tòa Bạch Cung hơn hai nhiệm kỳ).

* THỂ THỨC BẦU CỬ TỔNG THỐNG:

Do Hiến pháp qui định mỗi bang (tổng cộng 50 bang) có quyền bình đẳng trong chọn lựa Tổng thống Mỹ, thành thử MỖI BANG BẦU CHỌN RIÊNG RẼ, DỰA TRÊN POPULAR VOTES (phiếu bầu phổ thông của người dân) để xác định ứng viên nào chiến thắng, tức chiếm được nhiều phiếu phổ thông nhứt (chú ý: cộng lại phiếu phổ thông trong mỗi bang, không cộng lại phiếu phổ thông trong toàn nước Mỹ).

Ứng viên chiến thắng, chẳng hạn tại bang A, sẽ nhận được số phiếu electoral votes được ấn định, qui đổi cho bang A.

* Chú thích: Số phiếu electoral votes bang A = số lượng Thượng nghị sĩ của bang A trong Thượng viện liên bang (luôn luôn là 2) + số lượng Dân biểu của bang A trong Hạ viện liên bang (ít nhiều tùy vào dân số). Ví dụ cho rõ: Electoral votes của bang California là 55 = số lượng Thượng nghị sĩ (là 2) + số lượng Dân biểu (là 53); Electoral votes của bang Alaska là 3 = số lượng Thượng nghị sĩ (luôn luôn là 2) + số lượng Dân biểu (là 1)...

* Lưu ý (đây là điều mà nhiều người bị nhầm lẫn):

Khi Trump thắng số phiếu cử tri phổ thông (popular votes) tại bang Alabama => NGAY LẬP TỨC, số electoral votes được ấn định cho Alabama là 9 sẽ thuộc về Trump. Cũng vậy, Hillary thắng số phiếu cử tri phổ thông tại bang Utah => NGAY LẬP TỨC, số electoral votes được ấn định cho Utah là 6 sẽ thuộc về Hillary.

Như vậy: a/ hoàn toàn dựa vào phiếu cử tri phổ thông để xác định người thắng TẠI MỖI BANG; b/ không có "ông to bà lớn" nào thay mặt cho dân để bầu lại, mà là SỰ QUI ĐỔI LẬP TỨC cho người thắng cử trong bang được nhận toàn bộ số electoral votes (đã được ấn định cụ thể) cho từng bang.

Cộng lại toàn bộ số electoral votes của mỗi ứng viên nhận được, nếu ứng viên nào đạt quá bán tối thiểu, tức có được 270 electoral votes (toàn nước Mỹ được qui đổi tổng cộng 538 electoral votes) thì trở thành Tổng thống.

* Tổng thống Donald J. Trump đương nhiệm là Tổng thống thứ 45 của Mỹ (nhiệm kỳ 2016 đến cuối năm 2020).

B/ VĂN PHÒNG TỔNG THỐNG (EOP)

Hỗ trợ việc điều hành của Tỏng thống, gồm nhiều cơ quan, như: Cục Quản lý và Ngân sách (OMB: Office of Management and Budget), Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR: United States Trade Reprsentative), Cơ quan bảo vệ môi trường (EPA: Environmental Protection Agency), Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA: Central Intelligence Agency)...

Đặc biệt phải kể đến Hội đồng An ninh Quốc gia (National Security Council), nơi cố vấn cho Tổng thống về chính sách đối ngoại, tình báo và an ninh quốc gia.

Thường xuyên tiếp xúc với công luận, dễ nhận thấy hơn, là Văn phòng Truyền thông Tòa Bạch cung (White House Communications Office)...

C/ NỘI CÁC (Cabinet)

Nội các của Mỹ gồm có 15 Bộ (người Mỹ gọi là "Department"), đứng đầu mỗi Bộ là Bộ trưởng (người Mỹ gọi là "Secretary", riêng Bộ trưởng Bộ Tư pháp được gọi là "Attorney General").

Luật pháp Mỹ qui định trong những trường hợp mà Tổng thống Mỹ không thể thực hiện trọng trách thì chuỗi "kế vị" được giao đảm trách công việc của Tổng thống sẽ là: Phó Tổng thống => Chủ tịch Hạ Viện => Chủ tịch Thượng viện tạm quyền ("president pro tempore", vì Chủ tịch Thượng viện chính thức là Phó Tổng thống) => các Bộ trưởng, theo thứ tự sau:

1/ Bộ Ngoại giao (Department of State)

2/ Bộ Ngân khố (Department of Treasury)

3/ Bộ Quốc phòng (Department of Defense)

4/ Bộ Tư pháp (Department of Justice)

5/ Bộ Nội vụ (Department of The Interior)

6/ Bộ Nông nghiệp (Department of Agriculture)

7/ Bộ Thương mại (Department of Commerce)

8/ Bộ Lao động (Department of Labor)

9/ Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh (Department of Health and Human Service)

10/ Bộ Gia cư và Phát triển Đô thị (Department of Housing and Urban Development)

11/ Bộ Giao thông (Department of Transportation)

12/ Bộ Năng lượng (Department of Energy)

13/ Bộ Giáo dục (Department of Education)

14/ Bộ Cựu chiến binh (Department of Veterans Affairs)

15/ Bộ Nội an (Department of Homeland Security)

NGÀNH TƯ PHÁP (JUDICIAL BRANCH)

Điều III của Hiến pháp Mỹ giao cho Quốc hội lưỡng viện (Congress) thẩm quyền thành lập các cơ quan tư pháp liên bang: các tòa án liên bang theo khu vực (district courts, nơi xét xử hầu hết các vụ kiện cấp liên bang), 13 tòa án phúc thẩm (courts of appeals) - ngoại trừ Tối cao Pháp viện (the Supreme Court of the United States) được qui định ngay trong Hiến pháp.

TỐI CAO PHÁP VIỆN:

Đây là tòa án duy nhứt được thiết lập bởi Hiến pháp, có thẩm quyền tối hậu trong việc giải thích Hiến pháp (đây là thẩm quyền hết sức hệ trọng); có tiếng nói quyết định trong các tranh tụng về luật liên bang; cùng với quyền tài phán chung thẩm (có quyền tuyên bố các đạo luật của Quốc hội lưỡng viện liên bang và của các quốc hội tiểu bang, hoặc các hoạt động của ngành Hành pháp liên bang và tiểu bang là vi hiến hay không).

Tối cao Pháp viện cũng có thẩm quyền trong các vụ kiện liên quan đến đại sứ và các nhà ngoại giao, trong các vụ án giữa các quốc gia.

* Thẩm quyền đề cử thẩm phán vào Tối cao Pháp viện thuộc về Tổng thống (bên ngành Hành pháp).

Nhưng thẩm quyền phê chuẩn việc đề cử của Tổng thống lại thuộc về Thượng viện (bên ngành Lập pháp; Hạ viện không có quyền phê chuẩn). Chỉ khi nhận được phê chuẩn của Thượng viện, nhân vật được Tổng thống đề cử mới trở thành Thẩm phán chính thức của Tối cao Pháp viện.

Số lượng các Thẩm phán Tối cao Pháp viện hiện nay là 9 vị - gồm 1 Chánh án (Chief Justice) và 8 Thẩm phán (Associate Justice). Nhiệm kỳ của các thẩm phán Tối cao Pháp viện là suốt đời, hoặc có thể xin từ nhiệm vì lý do sức khỏe.

Nhưng, cho dù nhiệm kỳ không bị giới hạn vào số năm (trọn đời), Thẩm phán Tối cao Pháp viện không phải là bất khả xâm phạm! Nếu bị Hạ viện liên bang đưa ra luận tội (impeachment) và Thượng viện đồng thuận kết luận là "có tội" (conviction), vị Thẩm phán Tối cao Pháp viện đó buộc phải bị bãi chức.

* Vì sao Hiến pháp quy định Thẩm phán Tối cao Pháp viện có "nhiệm kỳ trọn đời"?

Theo luận giải, "nhiệm kỳ trọn đời" giúp cho các Thẩm phán được ĐỘC LẬP hoàn toàn, thoát khỏi áp lực chìu theo những đòi hỏi nhứt thời từ công chúng, thoát khỏi những áp lực chánh trị để được tái cử (nếu nhiệm kỳ có hạn định về thời gian) hoặc áp lực chánh trị mỗi khi đưa ra phán quyết (áp lực từ Tổng thống, hoặc từ Dân biểu, Thượng nghị sĩ).

Một nghi vấn thường được đặt ra: Thẩm phán Tối cao Pháp viện là do Tổng thống đề cử, ắt hẳn Tổng thống sẽ chọn người có cùng quan điểm với TT. Thực sự quy trình chọn lựa/phê chuẩn Thẩm phán của Tối cao Pháp viện (TCPV) rất gay go, không ai có thể dễ dàng "lấy tay che ánh mặt trời".

Mặt khác, Thẩm phán TCPV do thủ đắc nhiệm kỳ suốt đời nên sau đó có "trở chứng", "làm khó" thì ... Tổng thống cũng đành chịu, không thể bãi chức được (TT chỉ có quyền đề cử, nhưng không có quyền luận tội, bãi chức), kêu là "hạ thủ bất hườn"!

Trong thực tế đã từng có những trường hợp như vậy. Như Chánh án Earl Warren, là người được Tổng thống Eisenhower đề cử và được phê chuẩn. Tuy nhiên, với trách nhiệm BẢO VỆ CÔNG LÝ/HIẾN PHÁP, rất nhiều lần Chánh án Earl Warren có quan điểm ngược lại với TT Eisenhower. Và ông Eisenhower đã chua chát thừa nhận việc đề cử Warren là "sai lầm lớn nhứt tôi từng mắc phải".

QUY TRÌNH TƯ PHÁP (the Judicial Proces):

Nhằm bảo đảm nguyên tắc được xét xử công bằng, các Tu chính án 4, 5 và 6 của Hiến pháp Mỹ cung cấp các biện pháp bảo vệ cho những người đứng trước vành móng ngựa của Tòa án.

Trong đó, có thể kể đến:

- Không công dân nào bị tước đoạt mạng sống, quyền tự do hoặc tài sản mà không theo đúng thủ tục tố tụng;

- Quyền được xét xử đúng thời hạn bởi một bồi thẩm đoàn vô tư (tức không bị hoãn tới hoãn lui theo dụng ý chủ quan của Tòa);

- Có quyền từ chối "tự buộc tội" (self-incrimination): nhiệm vụ của Tòa là buộc tội với các chứng cớ khách quan, đáng tin cậy; không được gây áp lực hoặc đe dọa người ra trước vành móng ngựa phải tự buộc tội.

Đương sự nếu thua kiện có quyền kháng cáo lên tòa án cao nhứt của tiểu bang, hoặc tòa phúc thẩm liên bang.

Nguyễn -Chương Mt

Loading...
Loading...